Friday, 01/07/2022 - 07:48|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS Nguyễn Biểu

HÌNH ẢNH NGƯỜI CHIẾN SĨ VIỆT NAM

     Tôi là một người may mắn sinh ra và lớn lên trong thời bình, cũng chưa từng nếm trải những mất mát do chiến tranh gây ra. Tôi cũng chỉ biết đến những năm tháng khốc liệt ấy qua những thước phim tài liệu, qua những bài thơ, câu chuyện, qua những lời kể của ông bà, qua lời giảng của thầy cô giáo khi còn ngồi trên ghế nhà trường...Dù chỉ như vậy thôi, nhưng những câu chuyện, hình ảnh về những năm tháng đau thương thương ấy của dân tộc luôn in hằn trong tâm trí của tôi như một lời nhắc nhở để thế hệ trẻ chúng tôi biết rằng: hòa bình, hạnh phúc mà chúng tôi đang nắm giữ hôm nay đã phải đổi bằng xương máu của biết bao đồng bào, đồng chí, của biết bao người lính...đã ngã xuống hôm qua...!!!

     Bốn mươi lăm năm đã qua đi kể từ cái ngày thống nhất đất nước 30/4/1975, bốn mươi lăm năm trôi qua với biết bao sự thay đổi, đất nước ta đã “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, có thể tự hào “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Bác Hồ từng mong ước. Nhưng công lao, sự hy sinh cao quý của các anh bộ đội Cụ Hồ thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ thì vẫn được lớp lớp thế hệ trẻ chúng tôi ghi nhớ mãi. Ba mươi năm chiến tranh, ba mươi năm dân tộc ta chìm trong khói lửa đạn bom. Hàng triệu người con Việt Nam lên đường đánh giặc không quay trở về, và nếu may mắn trở về thì cũng mang trên mình đầy thương tích; đau đớn thay, biết bao người mẹ, người vợ tiễn chồng ra trận nhưng điều mà họ nhận được chỉ là sự lặng im không tin tức, thậm chí chỉ là một tờ giấy báo tử...Để rồi...mỗi sáng, mỗi chiều, mẹ đều chờ con nơi bậc cửa, vợ vẫn đợi chồng bên chốn song thưa...Nhưng... mịt mù tin con trong bữa cơm chiều chạng vạng; mòn mỏi trông chồng trong heo hút khói sương...! Dù biết trước điều đó, nhưng với tất cả lòng yêu nước, lòng căm thù giặc sâu sắc, mỗi người lính, gia đình người lính và toàn thể nhân dân Việt Nam vẫn luôn sẵn sàng hy sinh tất cả. Họ sống, chiến đấu và ngã xuống vì sự bình yên của Tổ quốc.Tư thế hy sinh bất khất, hiên ngang ấyđã được nhà thơ Trần Anh Xuân nhắc đến trong bài thơ “Dáng đứng Việt Nam”:

“Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ
Anh chẳng để lại gì cho riênganh trước lúc lên đường
Chỉ để lại cái dáng - đứng - Việt - Nam tạc vào thế kỷ
Anh là chiến sĩ Giải phóng quân.

Tên anh đã thành tên Đất Nước
Ôi anh Giải phóng quân
Từ dáng đứng của anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất
Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”

                                                                                      ("Dáng đứng Việt Nam" - Lê Anh Xuân)

     Và trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, sự hy sinh ấy cũng thật hào hùng- bi tráng: 

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành…”

   ("Tây Tiến" - Quang Dũng)

Người lính Việt Nam, dù họ là ai, xuất thân như thế nào thì khi cùng nhau chiến đấu, họ đều là “đồng chí”:

                                                                                           “Áo anh rách vai

                                                                          Quần tôi có vài mảnh vá

                                                                         Miệng cười buốt giá

                                                                         Chân không giày

                                                                        Thương nhau tay nắm lấy bàn tay...”.

                                                                                                 (“Đồng chí” - Chính Hữu).

Thế đấy! Trong hoàn cảnh khó khăn, cam go thử thách như vậy nhưng miệng họ vẫn cười và “thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Có thể nói, cái nắm tay ấy, nụ cười ấy, chính là cái nắm tay, là nụ cười ấm ấp tình đồng chí mà có lẽ chỉ có trong chiến tranh của dân tộc Việt Nam mới có. Tình cảm ấy nó thiêng liêng và cao quý lắm. Tình “thương nhau” ấy đã vượt qua tình thương giữa con người với con người. Ấy, là tình thương, là trách nhiệm với “đồng chí”, cũng là tình thương và trách nhiệm với đồng bào, Tổ quốc. Trong hoàn cảnh gian khổ và khốc liệt của chiến tranh, tình cảm ấy nó giản dị và đáng trân trọng vô cùng:

“Không có kính, rồi xe không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước,
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim”.

                                                                                                  (“Bài thơ về Tiểu đội xe không kính”- Phạm Tiến Duật).

     Dù “áo anh rách vai”, “quần tôi có vài mảnh vá” hay dù “xe không có kính”...nhưng chỉ cần họ có một trái tim, một trái tim biết hướng về Tổ quốc, nhân dân thì với họ, mọi khó khăn, gian khổ, thậm chí cả cái chết đâu có cản được bước tiến của họ trên con đường đánh giặc. Có thể nói, họ chính là những con người làm nên lịch sử bất khuất của dân tộc. Mỗi tấc đất, nhánh cây, ngọn cỏ trên mảnh đất Việt Nam này, đều thấm đẫm máu đào của các anh hùng thương binh, liệt sỹ. Là người Hà Tĩnh, chắc hẳn không ai là không kính cẩn nghiêng mình trước sự hy sinh của mười cô gái thanh niên xung phong ở Ngã Ba Đồng Lộc. Họ ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ. Tất cả đều “chưa có chồng và chưa có người yêu”. Mỗi khi đến thăm Đồng Lộc, thắp hương tưởng niệm mười cô, lòng tôi lại đau như cắt, nước mắt cứ thế trào ra. Nhìn những gương mặt non nớt, hồn nhiên của các cô trong ảnh, nghĩ đến những gì các cô và bao người lính đã trải qua, đặc biệt nếu ai đã từng đi thăm nghĩa trang Trường Sơn mới thấy chiến tranh tàn khốc và nghiệt ngã đến như thế nào.

     Ba mươi năm chiến tranh, bao người ra đi, bao người nằm lại, bao người quay trở về không nguyên vẹn? Bao nhiêu hài cốt của các liệt sỹ vẫn còn thất lạc đâu đó hoặc chưa được ghi danh...??? Bốn mươi lăm năm sau khi đất nước thống nhất! Bao nhiêu người mẹ, người vợ đã phải sống những tháng ngày còn lại của cuộc đời trong nỗi quạnh quẽ, nhớ mong khôn xiết? Bao nhiêu nỗi đau do chiến tranh gây ra vẫn chưa được chữa lành? Và bây giờ, dù đất nước đã được hòa bình, nhưng những người lính vẫn phải hy sinh trong thầm lặng để bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân. Nơi “rừng hoang sương muối”, nơi biên giới hải đảo xa xôi, nơi đầu sóng ngọn gió...những chiến sỹ thời bình vẫn luôn là anh hùng trong lòng của đồng bào Việt Nam.Nhờ có họ mà ta mới có thể ngủ an giấc, mới có thể vui vẻ tận hưởng cuộc sống mà ta đang có và nhờ có họ mà mảnh đất hình chữ S này mới trở nên xinh đẹp hơn ở bất cứ đâu trên thế giới.

“Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh cò bay lả rập rờn
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều
Quê hương biết mấy thân yêu
Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau
Mặt người vất vả in sâu
Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn
Đất nghèo nuôi những anh hùng
Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên
Đạp quân thù xuống đất đen
Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”

                                                                                                                  (“Việt Nam quê hương ta” - Nguyễn Đình Thi)

     Đúng như nhà thơ Nguyễn Đình Thi viết: “Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”! Trong chiến tranh, những người lính anh dũng, gan dạ; thì trong thời bình, họ vẫn hết lòng tận tụy vì dân, vì nước, kể cả những người đang tại ngũ, đã nghỉ hưu hay chuyển công tác. Dù ở cương vị nào, họ vẫn luôn xứng đáng với sự tin tưởng, ngưỡng vọng của nhân dân. Dù là trong chiến tranh hay lúc hòa bình, thì họ vẫn luôn “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”. Chúng ta càng thấu hiểu điều đó khi cả nước phải đối mặt với “kẻ thù vô hình” là đại dịch Covid-19, một đại dịch đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tất cả mọi khía cạnh của đời sống con người và an nguy của dân tộc. Đứng trước thử thách cam go đó, mỗi người lính Cụ Hồ thời đại mới đã quán triệt sâu sắc tinh thần “chống dịch như chống giặc”. Họ chủ động dành chỗ ở, nhường doanh trại, cơ sở vật chất, bảo đảm điều kiện tốt nhất để phục vụ, chăm sóc chu đáo, tận tình người cách ly như phục vụ và chăm sóc người thân. Có lẽ khó ai mà cầm lòng được khi nhìn những hình ảnh các chiến sỹ phải ăn, ngủ dưới đất ẩm ướt trong rừng mà thấy vừa thương, vừa xúc động và cảm phục vô cùng.

                                                                      Bữa cơm vội mùa dịch của các chiến sỹ

                                                                     Giây phút nghỉ ngơi hiếm hoi của các chiến sỹ để lấy sức chống dịch

      Dịch bệnh vừa mới tạm ổn, những người lính của chúng ta vừa chỉ mới được tạm thời nghỉ ngơi thì khúc ruột miền Trung lại vang lên tiếng rên xiết thảm thiết khi phải hứng chịu trận bão - lũ lịch sử của năm 2020. Và một lần nữa, họ lại tiếp tục lên đường nhận nhiệm vụ mới, nhiệm vụ giúp dân ứng phó, khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra. Thật khâm phục biết bao trước tấm lòng, trách nhiệm, sự tận tụy của các anh và cũng thật đau lòng biết bao khi trong cuộc chiến không tiếng súng đó, có nhiều chiến sỹ đã mãi mãi không thể quay về...! Đồng đội thương tiếc nhắc tên anh, người thân đau đớn vì mất anh và mỗi người dân Việt Nam thầm lặng nguyện cầu cho các anh được thanh thản nơi chín suối.

 

                                                       Cả nước vô cùng thương tiếc 13 chiến sỹ hy sinh trong khi làm nhiệm vụ ở Rào Trăn

     Chiến tranh đã cướp đi của dân tộc ta hàng triệu triệu người con anh dũng nhưng hòa bình rồi, các anh vẫn còn phải hy sinh. Cả nước kính cẩn nghiêng mình bên linh cữu của các anh, xin được nói với các anh hai từ: tiễn biệt! Xin tỏ lòng biết ơn đối với các anh, những con người làm nên lịch sử, những con người giữ cho đất nước này luôn luôn được bình yên! Cuối cùng, xin được mượn những câu thơ trong bài thơ “Nợ mẹ” của nhà thơ Trịnh Thanh Hằng để tỏ nỗi tiếc thương vô hạn đối với những người con đã mãi nằm lại trên đất mảnh đất thân yêu, bỏ lại bóng dáng mẹ già mỏi mòn đợi con trong khắc khoải:

“Mẹ về đi ..
nắng héo hắt ..
trên đầu
Mây u ám ..
liêu xiêu ..
hình bóng mẹ
Đất nức nở …
trở trăn …
rưng rưng khẽ
Nước non này ..
nợ mẹ ..
cuộc đời con!”./.

Hồng Lĩnh, 23h30 phút ngày 30/11/2020

Phan Hà
 

 

Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 2
Hôm qua : 8
Tháng 07 : 2
Năm 2022 : 5.925