CHUYÊN ĐỀ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO MÔN NGỮ VĂN

Thứ tư - 25/10/2017 21:05

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (HĐTNST) là các hoạt động giáo dục thực tiễn được tiến hành song song với hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông, có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động dạy học. Quán triệt tinh thần, mục tiêu của Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, việc dạy học ngữ văn cho học sinh lớp 10 cần tăng cường thêm các HĐTNST nhằm phát triển, nâng cao các tố chất, tiềm năng của học sinh, nuôi dưỡng ý thức sống tự lập, sự quan tâm, chia sẻ tới những người xung quanh.

Theo Từ điển tiếng Việttrải nghiệm được hiểu là trải qua, kinh qua. Để học hỏi, con người cần đến sự trải nghiệm, khám phá. Khám phá giúp con người nhận ra được cái đúng, cái sai trong cuộc sống, từ đó rút ra những bài học quý giá để hoàn thiện bản thân.
           “Sáng tạo” hay còn gọi là năng lực sáng tạo (creativity) được sử dụng đồng nghĩa với nhiều thuật ngữ khác như: sự sáng tạo (creation), tư duy hay óc sáng tạo (creative thinking), sản phẩm hay nhân cách sáng tạo (creative product or personality) vv… Các thuật ngữ này điều có liên quan đến một thuật ngữ gốc Latin “Crear” và mang một nghĩa chung là sự sản xuất, tạo ra, sinh ra một cái gì đó mà trước đây chưa hề có, chưa tồn tại.
         Sáng tạo là biểu hiện của tài năng trong những lĩnh vực đặc biệt nào đó, là năng lực tiếp thu tri thức, hình thành ý tưởng mới và muốn xác định được mức độ sáng tạo cần phải phân tích các sản phẩm sáng tạo.
         Sáng tạo được hiểu là hoạt động của con người nhằm biến đổi thế giới tự nhiên, xã hội phù hợp với các mục đích và nhu cầu của con người trên cơ sở các qui luật khách quan của thực tiễn, đây là hoạt động đặc trưng bởi tính không lặp lại, tính độc đáo và tính duy nhất.
         Hoạt động TNST là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình.
       Nội dung hoạt động trải nghiệm sáng tạo mang tính tích hợp và phân hóa cao. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng, đòi hỏi sự phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo giúp lĩnh hội những kinh nghiệm mà các hình thức học tập khác không thực hiện được,  thể hiện qua các chủ đề đa dạng, phong phú vừa đảm bảo yêu câu chung và vừa phù hợp với đặc điểm của từng trường, địa phương.   
      Hoạt động TNST là một bộ phận của chương trình; Có quan hệ chặt chẽ với hoạt động dạy học. Gắn lí thuyết với thực tiển.
       Hoạt động TNST nhằm hình thành và phát triển phẩm chất nhân cách, các năng lực tâm lí xã hội …; giúp hs tích luỹ kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình;  Làm tiền đề cho mỗi cá nhântạo dựng được sự nghiệp và cuộc sống hạnh phúc sau này.   
 Với cách hiểu về HĐTNST như trên, có thể thấy bất kỳ môn học, lĩnh vực nào cũng có thể xây dựng nội dung trải nghiệm. Nội dung trải nghiệm sáng tạo rất đa dạng, mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kỹ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập, giáo dục như: đạo đức, trí tuệ, kỹ năng sống, giá trị sống, nghệ thuật, thẩm mỹ, thể chất, an toàn giao thông, môi trường ... Giáo viên có thể lựa chọn những vấn đề thiết thực, gần gũi với cuộc sống thực tế, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của học sinh, giúp các em vận dụng hiểu biết vào thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng, thuận lợi.
HĐTNST là hoạt động giáo dục có ưu thế về quy mô tổ chức. Có nhiều cách tổ chức như: theo nhóm, lớp, khối lớp, trường hoặc liên trường. HĐTNST có khả năng thu hút sự tham gia, phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, cán bộ Đoàn, tổng phụ trách Đội, ban giám hiệu nhà trường, hội phụ huynh, chính quyền địa phương, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp ở địa phương, các nhà hoạt động xã hội, những nghệ nhân, người lao động tiêu biểu ở địa phương…
Trong chương trình Ngữ Văn ở trường THCS, Văn học dân gian (VHDG) chiếm một thời lượng không nhỏ của chương trình, VHDG rất phong phú về nội dung, đa dạng về thể loại. Vì thế với thời lượng trên lớp người giáo viên khó thể nói hết cái hay, cái đẹp của VHGD. HĐTNST thông qua chủ đề Văn học dân gian nhằm nâng cao hiểu biết về văn học dân gian, hình thành kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tham gia và tổ chức hoạt động tập thể cho học sinh. Đồng thời, bồi dưỡng năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo, năng lực thẩm mỹ, giao tiếp, hợp tác cho học sinh. Học sinh được bồi dưỡng thái độ tôn trọng các giá trị văn hóa của dân tộc, biết yêu thương con người, có cách sống, thái độ sống đúng dắn,có sự rung cảm trước tác phẩm văn học dân gian. Bởi vậy trải nghiệm sáng tạo trong dạy học môn Ngữ Văn là một hoạt động vô cùng cần thiết và bổ ích. Qua hoạt động này các em học sinh sẽ cảm nhận được những vẻ đẹp đặc trưng của thể loại VHDG. Đặc biệt việc tổ chức hoạt động trải nghiệm thông qua hình thức sân khấu giúp chúng ta làm sống lại các tác phẩm văn học trong môi trường diễn xướng, làm sáng lên những vẻ đẹp của tác phẩm VHDG mà do sự hạn chế về thời gian và điều kiện khác mà giờ học trên lớp khó có thể mang lại, cũng qua hoạt động trải nghiệm này tạo cho các em học sinh một sân chơi bổ ích, lành mạnh, từ đó giáo dục cho các em niềm tự hào về vẻ đẹp văn hóa của dân tộc và niềm say mê bộ môn Ngữ Văn.
      Với ý nghĩa đó hôm nay  tổ chuyên môn Văn – Sử - Địa trường THCS Nguyễn Biểu tổ chức chuyên đề: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo môn Ngữ văn" với chủ đề 6: “Sân khấu hóa tuyện dân gian”
          Theo TS Ngô Thị Thu Dung – Giám đốc Điều hành Trung tâm Nghiên cứu phát triển giáo dục cộng đồng (CCE) thì việc thiết kế các HĐTNST cụ thể được tiến hành theo các bước sau:
        Bước 1: Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo:
          Căn cứ nhiệm vụ, mục tiêu và chương trình giáo dục, nhà giáo dục cần tiến hành khảo sát nhu cầu, điều kiện tiến hành. Xác định rõ đối tượng thực hiện. Việc hiểu rõ đặc điểm học sinh tham gia vừa giúp nhà giáo dục thiết kế hoạt động phù hợp đặc điểm lứa tuổi, vừa giúp có các biện pháp phòng ngừa những đáng tiếc có thể xảy ra cho học sinh.
Bước 2: Đặt tên cho hoạt động
Đặt tên cho hoạt động là một việc làm cần thiết vì tên của hoạt động tự nó đã nói lên được chủ đề, mục tiêu, nội dung, hình thức của hoạt động.Tên hoạt động cũng tạo ra được sự hấp dẫn, lôi cuốn, tạo ra được trạng thái tâm lý đầy hứng khởi và tích cực của học sinh. Vì vậy, cần có sự tìm tòi, suy nghĩ để đặt tên hoạt động sao cho phù hợp và hấp dẫn. Việc đặt tên cho hoạt động cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
  - Rõ ràng, chính xác, ngắn gọn.
  - Phản ánh được chủ đề và nội dung của hoạt động.
  - Tạo được ấn tượng ban đầu cho học sinh
     Tên hoạt động đã được gợi ý trong bản kế hoạch HĐTNST, nhưng có thể tùy thuộc vào khả năng và điều kiện cụ thể của từng lớp để lựa chọn tên khác cho hoạt động. Giáo viên cũng có thể lựa chọn các hoạt động khác ngoài hoạt động đã được gợi ý trong kế hoạch của nhà trường, nhưng phải bám sát chủ đề của hoạt động và phục vụ tốt cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục của một chủ đề, tránh xa rời mục tiêu.
Bước 3: Xác định mục tiêu của hoạt động
Mỗi hoạt động đều thực hiện mục đích chung của mỗi chủ đề theo từng tháng nhưng cũng có những mục tiêu cụ thể của hoạt động đó. Mục tiêu của hoạt động là dự kiến trước kết quả của hoạt động. Các mục tiêu hoạt động cần phải được xác định rõ ràng, cụ thể và phù hợp; phản ánh được các mức độ cao thấp của yêu cầu cần đạt về tri thức, kĩ năng, thái độ và định hướng giá trị. Nếu xác định đúng mục tiêu sẽ có các tác dụng là:
          - Định hướng cho hoạt động, là cơ sở để chọn lựa nội dung và điều chỉnh hoạt động
          - Căn cứ để đánh giá kết quả hoạt động
          - Kích thích tính tích cực hoạt động của thầy và trò
          Tùy theo chủ đề của HĐTNST ở mỗi tháng, đặc điểm HS và hoàn cảnh riêng của mỗi lớp mà hệ thống mục tiêu sẽ được cụ thể hóa và mang màu sắc riêng. Khi xác định được mục tiêu cần phải trả lời các câu hỏi sau:
          - Hoạt động này có thể hình thành cho học sinh những kiến thức ở mức độ nào? (Khối lượng và chất lượng đạt được của kiến thức?)
          - Những kỹ năng nào có thể được hình thành ở học sinh và các mức độ của nó đạt được sau khi tham gia hoạt động?
          - Những thái độ, giá trị nào có thể được hình thành hay thay đổi ở học sinh sau hoạt động?
Bước 4: Xác định nội dung và phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt động
          Mục tiêu có thể đạt được hay không phụ thuộc vào việc xác định đầy đủ và hợp lý những nội dung và hình thức của hoạt động. Trước hết, cần căn cứ vào từng chủ đề, các mục tiêu đã xác định, các điều kiện hoàn cảnh cụ thể của lớp, của nhà trường và khả năng của học sinh để xác định các nội dung phù hợp cho các hoạt động. Cần liệt kê đẩy đủ các nội dung hoạt động phải thực hiện. Từ nội dung, xác định cụ thể phương pháp tiến hành, xác định những phương tiện cần có để tiến hành hoạt động. Từ đó lựa chọn hình thức hoạt động tương ứng. Có thể một hoạt động nhưng có nhiều hình thức khác nhau được thực hiện đan xen hoặc trong dó có một hình thức nào đó là chủ đạo, còn hình thức khác là phụ trợ.
Bước 5: Lập kế hoạch
          Lập kế hoạch để thực hiện hệ thống mục tiêu tức là tìm các nguồn lực (nhân lực – vật lực – tài liệu) và thời gian, không gian… cần cho việc hoàn thành các mục tiêu.
          Chi phí về tất cả các mặt phải được xác định. Hơn nữa phải tìm ra phương án chi phí ít nhất cho việc thực hiên mỗi một mục tiêu. Vì đạt được mục tiêu với chi phí ít nhất là để đạt được hiệu quả cai nhất trong công việc. Đó là điều mà bất kỳ người quản lý nào cũng mong muốn và cố gắng đạt được.  Tính cân đối của kế hoạch đòi hỏi giáo viên phải tìm ra đủ các nguồn lực và điều kiện để thực hiện mỗi mục tiêu. Nó cũng không cho phép tập trung các nguồn lực và điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu này mà bỏ mục tiêu khác đã lựa chọn. Cân đối giữa hệ thống mục tiêu với các nguồn lực và điều kiện thực hiện chúng, hay nói khác đi, cân đối giữa yêu cầu và khả năng đòi hỏi người giáo viên phải nắm vững khả năng mọi mặt, kể cả các tiềm năng có thể có, thấu hiểu từng mục tiêu và tính toán tỉ mỉ việc đầu tư cho mỗi mục tiêu theo một phương án tối ưu.
Bước 6: Thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy
Trong bước này, cần phải xác định: Có bao nhiêu việc cần phải thực hiện? Các việc đó là gì? Nội dung của mỗi việc đó ra sao? Tiến trình và thời gian thực hiện các việc đó như thế nào? Các công việc cụ thể cho các tổ, nhóm, các cá nhân. Yêu cầu cần đạt được của mỗi việc.
Bước 7: Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình hoạt động
Rà soát, kiểm tra lại nội dung và trình tự của các việc, thời gian thực hiện cho từng việc, xem xét tính hợp lý, khả năng thực hiện và kết quả cần đạt được. Nếu phát hiện những sai sót hoặc bất hợp lý ở khâu nào, bước nào, nội dung nào hay việc nào thì kịp thời điều chỉnh. Cuối cùng, hoàn thiện bản thiết kế chương trình hoạt động và cụ thể hóa chương trình đó bằng căn bản. Đó là giáo án tổ chức hoạt động.
Bước 8: Lưu trữ kết quả hoạt động vào hồ sơ của học sinh.
Sau đây là cách thức tổ chức các bước cho chủ đề 6: “Sân khấu hóa tuyện dân gian”
CHỦ ĐỀ 6: SÂN KHẤU HÓA TRUYỆN DÂN GIAN
Bước 1: Xác định vấn đề cần giải quyết:
- Tên bài học: HĐTNST chủ đề 6: Sân khấu hóa truyện dân gian
- Hình thức dạy học: hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm từ 3-5 người, tại lớp học.
- Chuẩn bị của GV – HS:
Sgk Ngữ văn lớp 6 tập 1, lịch sử 6,7
Máy tính có kết nối Intenet, băng đĩa về các tiểu phẩm biểu diễn
Bút viết, bút đánh dấu, sổ tay, nguyên vật liệu chế tạo đạo cụ sân khấu: bìa, giấy màu, hồ dán, …
Bước 2: Xây dựng nội dung bài học:
- Chuyển thể được một (hoặc một vài) tác phẩm truyện dân gian đã học thành một kịch bản sân khấu.
- Biểu diễn tiểu phẩm kịch dựa trên kịch bản đã chuyển thể
+ Hoạt động 1,2: Học sinh làm việc tại phòng máy: Tìm kiếm và xử lí thông tin từ các nguồn : sgk, internet, và các nguồn khác… sau đó báo cáo
+ Hoạt động 3,4: Xây dựng ý tưởng và sáng tác kịch bản chuyển thể từ những câu chuyện dân gian đã học.
Bước 3:  Xác định mục tiêu hoạt động:
I. Mục tiêu hoạt động
HS củng cố và khắc sâu nội dung ý nghĩa những truyện dân gian đã học qua hình thức sân khấu hóa
Biết cách chuyển thể truyện dân gian thành kịch bản sân khấu, bước đầu làm quen với phương pháp học văn theo hướng “trả tác phẩm về  cho học sinh”
2.Kỹ năng
- HS hình thành và rèn một số kĩ năng: tìm kiếm thông tin, làm việc nhóm, thuyết trình, diễn xuất…
- Thái độ: Học sinh được bồi dưỡng tình yêu văn chương, nghệ thuật; yeâu thích truyện cổ dân gian nước nhà.
3. Định hướng phát triển năng lực:
Giúp học sinh phát triển một số năng lực:
- Năng lực làm chủ và phát triển bản thân: Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo.
- Năng lực xã hội: Năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác.
- Năng lực công cụ: Năng lực sử dụng ngôn ngữ , biểu diễn nghệ thuật: Diễn xuất kịch bản…
* Kĩ năng sống:
- Ra quyết định: Lựa chọn cách sử dụng văn bản sáng tác kịch bản sáng tạo
- Giao tiếp: Trình bày suy nghĩ, ý tưởng, thảo luận, chia sẻ những ý tưởng của cá nhân về kịch bản, thuyết trình, diễn xuất…
Bước 4: Thiết kế tiến trình tổ chức các hoạt động dạy học
1. Ổn định tổ chức.
2. Kiểm tra bài cũ :
         Kiểm tra việc chuẩn bị  của HS
         3. Bài mới :
Hoạt động 1: Tìm kiếm và xử lí thông tin:
       * Mục tiêu hoạt động:
       Hs đọc và tìm hiểu lại những truyện dân gian đã hoc để nắm vững cốt truyện; tìm hiểu trang phục, ngôn ngữ, lối sống của người Việt thời đại Hùng Vương, thời Trung đại... thông qua sách lịch sử 6,7, nguồn Internet, và các nguồn khác
      * Hình thức hoạt động: nhóm học sinh từ 3-5 em, tìm kiếm thông tin trên Internet về chủ đề truyện dân gian Việt Nam
     * GV: giao nhiệm vụ:
     Hs làm việc nhóm với sách giáo khoa, máy tính:
       - Đọc lại các truyện dân gian/sgk Ngữ văn 6 tập 1
       - Lựa chọn truyện dân gian sẽ chuyển thể thành kịch bản sân khấu
       - Tìm hiểu sgk Sử 6,7 và Internet … về trang phục, ngôn ngữ, lối sống của người Việt thời đại Hùng Vương, thời Trung đại:
         + Những bài viết, hình ảnh minh họa về trang phục
         + Cách thức chuyển thể một tác phẩm truyện sang tiểu phẩm kịch và một số hình thức sân khấu khác
         + Ví dụ một vài kịch bản sân khấu
      GV: Hướng dẫn hs lập folder lưu lại các bài viết và hình ảnh đã tìm kiếm được hoặc ghi vào phiếu thông tin của nhóm hoặc cắt lưu lại những bài viết của tạp chí, báo...
* HS tìm kiếm và xử lí thông tin và báo cáo sản phẩm:
          - Nhóm trưởng phân công các thành viên trong nhóm lựa chọn tìm kiếm thông tin  trong sgk, trên Intenet theo các từ khóa: trang phục thời Hùng Vương, Phương pháp, Kịch bản sân khấu, Hình thức sân khấu hóa truyện dân gian…
          - Mỗi thành viên trong nhóm trình bày kết quả tìm kiếm theo các từ khóa được phân công.
          - Cả nhóm thống nhất xây dựng các thông tin tìm được theo sơ đồ tư duy về hình thức sân khấu hóa truyện dân gian
          Gv Kiểm tra:  các phiếu thu thập thông tin, các tư liệu học sinh tìm được
Hướng dẫn hs xây dựng sơ đồ tư duy về các nội dung đã tìm kiếm được liên qua đến hình thức sân khấu hóa truyện dân gian dân gian.
  -> Định hướng sản phẩm báo cáo theo sơ đồ tư duy sau:
         Gợi ý: HS có thể tự phát hiện thêm các hình thức sân khấu hóa  khác như: tiểu phẩm, tạp kĩ,…
       Hoạt động 2. 2: Xây dựng ý tưởng cho kịch bản sân khấu chuyển thể từ truyện dân gian
*Hình thức hoạt động nhóm:
        Hoạt động nhóm, trao đổi và trình bày ý tưởng sản phẩm
*GV: giao nhiệm vụ: Các nhóm thảo luận:
     - Thống nhất hình thức chuyển thể
     - Xây dựng kịch bản cho một truyện dân gian để biểu diễn trên sân khấu trong khoảng 10 phút: nguyên tác, hình thức chuyển thể, nhân vật, tên tiểu phẩm, dự kiến phân cảnh…
    Hs: thực hiện nhiệm vụ, thảo luận và báo cáo:
    Nhóm trưởng điều hành xây dựng ý tưởng theo các bước sau:
Bước 1: Thống nhất hình thức chuyển thể: lựa chọn nguyên tác chuyển thể, hình thức chuyển thể sát hay không sát với nguyên tác, đặt tên tiểu phẩm.
Bước 2: Thống nhất kịch bản chuyển thể:
     - Dự kiến số  lượng nhân vật, nhân vật chính, nhân vật phụ, tên nhân vật
    - Phân cảnh cho kịch bản
  GV  nêu một số câu hỏi phản biện, nhận xét, tư vấn cho ý tưởng kịch bản của từng nhóm. Đảm bảo sự đa dạng, không trùng lặp về ý tưởng.
     - Tại sao nhóm lại chọn truyện này để chuyển thể kịch bản
     - Tiểu phẩm có những nhân vật nào? Tại sao lại them, bớt nhân vật so với nguyên tác?
     - Thông điệp mà nhóm muốn truyền tới mọi người qua tiểu phẩm là gì?
Hoạt động 2. 3: Sáng tác kịch bản chuyển thể
   *Hình thức hoạt động nhóm:
    Hoạt động nhóm, trao đổi vàsáng tác kịch bản
GV giao nhiệm vụ cho HS:  
    GV hướng dẫn HS thảo luận nhóm : Sáng tác kịch bản cho từng phân cảnh
Hs: thực hiện nhiệm vụ:
-         Nhóm trưởng phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong nhóm
Các thành viên trong từng nhóm chủ động thực hiện nhiệm vụ sáng tác theo phân cảnh được phân công
   -  Cả nhóm ghép các phân cảnh, chỉnh sửa thống nhất thành kịch bản hoàn chỉnh.
 GvQuan sát, Tư vấn việc phân công nhiệm vụ trong các nhóm cho phù hợp với năng lực, hứng thú của từng hs, mỗi hs phải có ít nhất một nhiệm vụ.
    Gv góp ý sửa chữa kịch bản cho từng nhóm.
 Gv: Minh họa Phân cảnh 1:  Ếch ngồi đáy giếng
  Một đoạn của văn bản gốc  Ếch ngồi đáy giếng:
    Có một con ếch sống lâu ngày trong một giếng nọ. Xung quanh nó chỉ có vài con nhái, cua, ốc bé nhỏ. Hằng ngày, nó cất tiếng kêu ồm ộp làm vang động cả giếng, khiến các con vật kia rất hoảng sợ. Ếch cứ tưởng bầu trời trên đầu chỉ bé bằng chiếc vung và nó thì oai như một vị chúa tể.
  Được chuyển thể như sau:
Cảnh trong một cái giếng (tưởng tượng).
                                               Ếch Cốm đi lại nghênh ngang
Tên ta là Ếch Cốm
Sống trong một giếng khơi
Phía trên là bầu trời
Bằng chiếc vung – bé tí
Với cua, ôc, nhái, tôm
Ta đây là chúa tể
      Nói rồi Ếch chõ vào mấy con vật đang đi lại, kêu lên: Uôm! Uôm! Uôm!
Cua Kềnh, Nhái Bén thấy vậy liền cúi rạp xuống chào hỏi. Còn Ốc Vặn, Tôm lột sợ hãi nép vào một góc vẻ trốn tránh.
     Ếch Cốm cười lớn (vừa nói vừa vỗ vào ngực đắc chí, hợm hĩnh): Ha! Ha!Ha! Thấy chưa? Ta đúng là chúa tể trong giếng này!
-         Phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm thực hiện:
Hoạt động 3: Các nhóm hoàn thiện sản phẩm:
Các thành viên tiếp tục  tự hoàn thiện sản phẩm mà mình đảm nhiệm
Tập hợp hoàn thiện sản phẩm của nhóm.
Phân công người báo cáo trước lớp.
4. Củng cố, dặn dò:
- Các nhóm tiết tục hoàn thiện các sản phẩm của nhóm theo yêu cầu. Báo cáo và  trình bày sản phẩm của nhóm vào tiết sau….
V/ Rút kinh nghiệm: ………………………………………                                                   
Văn học là nhân học. Những giá trị của văn học phải đi vào cuộc sống, biến thành hành động cụ thể. Lúc đó, văn học mới làm tròn sứ mệnh của mình. HĐTNST chính là một cầu nối để văn học luôn là cây đời mãi mãi xanh tươi.
     Đặc điểm nổi bật của HĐTNST là coi trọng các hoạt động thực tiễn mang tính tự chủ của học sinh. Vì vậy, khi thiết kế HĐTNST, giáo viên cần chú ý tạo điều kiện để học sinh phải là người được chủ động tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động. Các hình thức tổ chức HĐTNST cần được nghiên cứu kỹ lưỡng sao cho phù hợp với nội dung chủ đề, vừa sức với học sinh. Trên đây là một số gợi ý về hình thức thực hiện HĐTNST cho chủ đề: “Sân khấu hóa tuyện dân gian”, giáo viên có thể sáng tạo thêm những hình thức phù hợp để tổ chức đạt hiệu quả cao nhất cho hoạt động giáo dục của mình, đáp ứng nhu cầu và mục tiêu giáo dục đặt ra.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Sen

Nguồn tin: Trường THCS Nguyễn Biểu

Tổng số điểm của bài viết là: 15 trong 5 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

HỖ TRỰC TRỰC TUYẾN

LIÊN KẾT WEBSITE GIÁO DỤC

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 21


Hôm nayHôm nay : 195

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 5922

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 119458

  WEBSITE CHÍNH THỨC TRƯỜNG THCS NGUYỄN BIỂU ĐỨC THỌ HÀ TĨNH
Địa chỉ: Xã Yên Hồ - Huyện Đức Thọ - Tỉnh Hà Tĩnh
Chịu trách nhiệm chính: Hiệu trưởng nhà trường
Website://thcsnguyenbieu.ductho.edu.vn